 | | (ĐCSVN)- Ai cũng biết điều đó, nhưng thực tế, theo phản ánh của phần lớn những người có HIV, họ bị “hạn chế” tối đa về quyền này. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với Ths. Nguyễn Huy Quang, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Y tế.
PV: Xin ông cho biết những quy định của pháp luật liên quan đến việc có con của người nhiễm HIV/AIDS?
Ông Nguyễn Huy Quang: Pháp luật quy định rất rõ quyền của người nhiễm HIV/AIDS. Ví dụ như quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền tự do đi lại, cư trú, quyền được sống hòa nhập với cộng đồng và xã hội, không bị xa lánh, kỳ thị và sống tách biệt với cộng đồng. Họ cũng có quyền về hôn nhân và cuộc sống gia đình (quyền biết kết quả xét nghiệm HIV của vợ hoặc chồng hoặc người chuẩn bị kết hôn, đặc biệt, người nhiễm HIV/AIDS không bị phân biệt đối xử nhưng phải thực hiện các biện pháp phòng và chống lây truyền bệnh để bảo vệ sức khỏe cộng đồng theo quy định của pháp luật).
Pháp luật cũng không cấm người nhiễm HIV/AIDS có con nhưng theo khuyến cáo của các nhà chuyên môn, người nhiễm HIV/AIDS không nên có con, trong trường hợp có rồi thì phải được uống thuốc dự phòng lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con theo đúng phác đồ điều trị của Bộ Y tế (theo quy định, tất cả các bà mẹ bị nhiễm HIV/AIDS có thai đều được uống thuốc dự phòng lây truyền miễn phí từ các dự án, chương trình…).
PV: Thực tế, theo phản ánh của không ít các phụ nữ có HIV, khi họ đến các cơ sở y tế để khám thai đều được tư vấn phá thai, hoặc chỉ định phá thai, thậm chí các bác sỹ tư vấn có thái độ rất “nặng nề”, cách hành xử như thế có đúng không? Quan điểm của ông về vấn đề này?
Ông Nguyễn Huy Quang: Hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới đều có quy định như thế. Việc tư vấn cho người nhiễm HIV/AIDS nên để đẻ hay phá thai là quyền của bác sỹ đối với từng trường hợp cụ thể. Còn việc miệt thị, chì chiết và lăng mạ việc người có HIV/AIDS có con là không đúng. Tuy nhiên, nếu là người có trách nhiệm với xã hội, đất nước, đứa con và chính bản thân mình, theo tôi người mẹ đó không nên để đứa bé chào đời bởi dù có được điều trị bằng thuốc dự phòng lây truyền từ mẹ sang con, vẫn có xác suất lây nhiễm. Vì vậy quyết định có con của một số cặp vợ chồng là vô cùng mạo hiểm. Hơn nữa, trong trường hợp 2 vợ chồng đều đã nhiễm HIV giai đoạn cuối, khi họ mất đi, số phận của đứa trẻ sẽ thế nào?
Mặc dù, pháp luật đã quy định: “Nghiêm cấm việc cha mẹ bỏ rơi với con chưa thành niên nhiễm HIV; người giám hộ bỏ rơi người được mình giám hộ nhiễm HIV”, nhưng trong thực tế, có không ít trẻ nhiễm HIV đã bị bỏ rơi không thương tiếc, tạo gánh nặng rất lớn cho xã hội. Các hành vi trên là trái với quy định của pháp luật, nhưng hiện nay chúng ta vẫn chưa có chế tài xử phạt. Khả năng, khi sửa đổi lại Nghị định 45 về xử lý các vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, sẽ phải đưa những sai phạm liên quan đến lĩnh vực HIV/AIDS vào đó.
PV: Có con là mong muốn suốt đời của đại đa số người có HIV, tuy nhiên để có được những đứa trẻ khỏe mạnh, không đơn giản. Theo ông được biết, đã có sự hỗ trợ nào trong lĩnh vực này?
Ông Nguyễn Huy Quang: Hiện, kỹ thuật lọc rửa tinh trùng cho những người nhiễm HIV/AIDS (phân lập và lựa chọn những con tinh trùng không nhiễm HIV để bơm vào tử cung người mẹ hoặc thụ thai trong ống nghiệm sau đó đưa vào tử cung người mẹ) đã được thực hiện tại một số nước trên thế giới, nhưng nó vẫn là một kỹ thuật không dễ thực hiện ở Việt Nam. Mặt khác, phương pháp này chỉ được áp dụng trong trường hợp người vợ không nhiễm, chồng nhiễm mà thôi./.
Xin cám ơn ông!
Hải Long (thực hiện) |